4 trường hợp người lao động phải bồi thường

Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động, người lao động có thể phải bồi thường khi vi phạm thỏa thuận. Do đó, người lao động nên lưu ý để đảm bảo quyền lợi và tránh gặp phải trường hợp đáng tiếc. Dưới đây là 4 trường hợp người lao động phải bồi thường trong Hợp đồng lao động.

Vi phạm thỏa thuận về bí mật kinh doanh, công nghệ

Theo khoản 2 Điều 21 Bộ luật Lao động năm 2019, người sử dụng lao động có quyền thỏa thuận bằng văn bản với người lao động về các nội dung liên quan đến việc bảo vệ bí mật kinh doanh, công nghệ của công ty.

Những bí mật về kinh doanh, công nghệ được quy định tại khoản 2 Điều 4 Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH bạn có thể tham khảo chi tiết tại đây.

Nếu người lao động vi phạm thỏa thuận này, công ty có quyền xử lý vi phạm và yêu cầu người lao động bồi thường theo thỏa thuận trong hợp đồng.

Tuy nhiên, công ty phải căn cứ vào lỗi, mức độ thiệt hại và hoàn cảnh thực tế gia đình, nhân thân và tài sản của người lao động để đề ra mức bồi thường phù hợp.

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Theo Điều 35 Bộ luật Lao động 2019, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải đảm bảo có lý do theo luật định hoặc đã báo trước đúng thời hạn cho người sử dụng lao động biết.

Người lao động được coi là đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật khi tự ý nghỉ ngang, không thực hiện đúng theo quy định. Khi đó, người lao động sẽ phải bồi thường theo quy định tại Điều 40 Bộ luật Lao động năm 2019 như sau:

  • Bồi thường nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

  • Bồi thường thêm 01 khoản tiền lương theo hợp đồng lao động tương ứng với những ngày không báo trước.

  • Hoàn trả chi phí đào tạo nếu trong quá trình làm việc được cử đi học nghề, đào tạo nghề từ kinh phí của người sử dụng lao động.

Ngoài ra, những khoản trợ cấp thôi việc, trợ cấp thất nghiệp, người lao động cũng sẽ không được nhận.

Làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị, tài sản của công ty

Theo khoản 1 Điều 129 Bộ luật Lao động 2019, người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của công ty sẽ phải bồi thường như sau:

  • Trường hợp gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng: Chỉ cần bồi thường tối đa 03 tháng tiền lương. Số tiền này sẽ được khấu trừ hằng tháng từ tiền lương của người lao động sau khi đã nộp các khoản bảo hiểm bắt buộc và thuế thu nhập cá nhân nhưng tối đa không quá 30% lương/tháng.

  • Làm hư hỏng tài sản công ty do cố ý hoặc sơ suất nhưng với hậu quả nghiêm trọng hoặc có giá trị thiệt hại thực tế > 10 tháng lương tối thiểu vùng: Người lao động bồi thường theo quy định của pháp luật hoặc nội quy lao động của công ty.

Làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của công ty

Căn cứ khoản 2 Điều 129 Bộ luật Lao động năm 2019, nếu làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản hoặc tài sản khác do công ty giao cho hoặc làm tiêu hao vật tư quá định mức cho phép, người lao động có thể phải chịu trách nhiệm bồi thường.

Tùy từng trường hợp mà mức bồi thường sẽ khác nhau. Người lao động còn không cần bồi thường cho công ty trong những trường hợp sau:

  • Có hợp hợp đồng trách nhiệm: Bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận.

  • Do thiên tai, hỏa hoạn, thảm họa, địch họa, dịch bệnh nguy hiểm, sự kiện khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép: Không phải bồi thường.

  • Trường hợp còn lại: Bồi thường một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường hoặc nội quy lao động.

 

 

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.