Hợp đồng thuê mặt bằng

HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 2024

Khái niệm và phân loại hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển

Dưới góc độ pháp luật Việt Nam, hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển (sau đây gọi là “hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển”) được định nghĩa là thỏa thuận được giao kết giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển, theo đó người vận chuyển thu giá dịch vụ vận chuyển do người thuê vận chuyển trả và dùng tàu biển để vận chuyển hàng hóa từ cảng nhận hàng đến cảng trả hàng.[1]

Như vậy, hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, trước tiên, phải được hiểu là một hợp đồng dân sự, bởi nó thể hiện sự tự do thỏa thuận và bình đẳng của các bên trong quá trình thiết lập hợp đồng.[2] Các bên được tự do trong việc lựa chọn người ký kết hợp đồng (chẳng hạn như người vận chuyển có thể tự do chọn bất kỳ người thuê vận chuyển nào để giao kết hợp đồng và ngược lại), tự do trong việc quyết định có tham gia vào hợp đồng hay không.[3]

Bên cạnh đó, nghĩa vụ chính của các bên trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển là người vận chuyển sẽ vận chuyển hàng hóa từ cảng nhận hàng đến cảng trả hàng và người thuê vận chuyển sẽ trả tiền dịch vụ vận chuyển cho người vận chuyển. Có thể thấy đây là một khái niệm chung nhất về hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển được quy định bởi Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015 (sau đây gọi là “BLHH Việt Nam 2015”). Định nghĩa không đưa ra bất kỳ quy định nào về hình thức giao kết cũng như nội dung của hợp đồng vì mỗi loại hợp đồng vận chuyển hàng hóa cụ thể sẽ có các quy định về hình thức và nội dung của hợp đồng khác nhau.

Theo đó, BLHH Việt Nam 2015 phân loại hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển thành hai hình thức: (1) hợp đồng vận chuyển theo chuyến; và (2) hợp đồng vận chuyển theo chứng từ vận chuyển.[4]

hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển

Phân loại hợp đồng vận chuyển hàng hóa

Dưới góc độ luật nước ngoài, có thể kể đến quy định của một số quốc gia có lĩnh vực vận tải hàng hải phát triển như Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore….[5] Luật Hàng hải của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quy định “Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển là hợp đồng, theo đó người vận chuyển cam kết vận chuyển bằng đường biển hàng hóa mà người giao hàng đã ký hợp đồng vận chuyển với mình từ cảng này đến cảng khác”.[6] Luật Hàng hải Trung Quốc lựa chọn cách phân loại hợp đồng theo hướng dựa vào mục đích thuê tàu để vận chuyển hàng từ nơi này đến nơi khác. Cụ thể, tại Điều 92 Bộ luật Hàng hải Trung Quốc 1992[7] đề cập đến khái niệm của hai loại hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển là hợp đồng vận chuyển theo chuyến (voyage charter) và hợp đồng vận chuyển theo chứng từ vận chuyển (bills of lading) tại Điều 71[8]. Theo đó, việc định nghĩa của pháp luật hàng hải Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng với Điều 146 BLHH Việt Nam khi định nghĩa hợp đồng vận chuyển theo chuyến được giao kết bằng văn bản với điều kiện “người thuê vận chuyển nguyên tàu hoặc một phần tàu cụ thể” để giao hàng từ cảng này đến cảng khác.[9] Tương tự với chứng từ vận chuyển, cả hai đều xác định “vận đơn là bằng chứng về việc người vận chuyển đã tiếp nhận hàng hóa”.[10] Đạo luật Thương mại Hàn Quốc quy định về hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển như sau “Hợp đồng vận chuyển bằng tàu biển có hiệu lực kể từ thời điểm người vận chuyển đồng ý vận chuyển hàng hóa của người giao hàng bằng đường biển và nhận tiền cước phí từ họ”.[11] Theo đó, có thể nhận thấy, quy định của Trung Quốc và Hàn Quốc về khái niệm hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển là tương tự như pháp luật Việt Nam và dường như pháp luật Việt Nam quy định có phần chặt chẽ và chi tiết hơn khi so sánh khái niệm trong BLHH Việt Nam với hai nước này. Tuy nhiên, theo Đạo luật Thương mại Hàn Quốc, hợp đồng vận chuyển hàng hóa được xác định thành hai loại: (1) hợp đồng thuê tàu, mục tiêu của hợp đồng là cung cấp toàn bộ hoặc một phần tàu để vận chuyển hàng hóa; và (2) hợp đồng có mục đích vận chuyển một loại hàng hóa cụ thể.[12] Khác với cách phân loại của Trung Quốc và Việt Nam, Đạo luật Thương mại của Hàn Quốc xếp hợp đồng vận chuyển theo chuyến vào loại hợp đồng thuê tàu với mục đích người sử dụng thuê một phần hoặc nguyên con tàu.[13] Ngoài ra, khái niệm hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển trong Bộ luật Thương mại Cộng hòa Liên bang Đức có nội hàm giống pháp luật Việt Nam tại Điều 146 BLHH 2015.[14]

Trái ngược với quy định của các quốc gia trên, pháp luật hàng hải của một quốc gia như Singapore, Nhật Bản lại không đưa ra khái niệm về hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển.[15] Pháp luật các nước này chỉ đưa ra các loại hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng bằng đường biển cụ thể thay vì đưa khái một khái niệm chung cho tất cả các loại hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển. Song, tại Điều 25(2) Luật Vận chuyển hàng hóa bằng đường biển của Singapore 2007[16] và những quy định hàng hải của Nhật Bản[17] phân loại hợp đồng vận chuyển đường biển cụ thể thành hai loại tương tự với pháp luật Việt Nam.

Dưới góc độ luật quốc tế, hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển hiện được điều chỉnh bởi ba văn kiện pháp lý quan trọng nhất là Quy tắc Hague năm 1924, Quy tắc Hague-Visby năm 1968 và Công ước Hamburg năm 1978.[18] Mặc dù cả ba Công ước trên đều điều chỉnh hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển nhưng phạm vi điều chỉnh của chúng có một số điểm khác nhau. Cụ thể, Quy tắc Hague 1924 và Hague-Visby 1968 điều chỉnh hợp đồng đồng vận chuyển hàng hóa thông qua chứng từ vận chuyển và cũng có thể áp dụng cho hợp đồng vận chuyển theo chuyến nếu có phát hành chứng từ vận chuyển, còn Công ước Hamburg 1978 được áp dụng cho các hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển ngay cả khi không cấp vận đơn.[19] Do vậy, Công ước Hamburg không bị hạn chế đối với vận đơn lưu thông được và có thể được áp dụng cho cả vận đơn đích danh (không lưu thông được) và các chứng từ điện tử.[20] Theo Công ước Hamburg 1978, hợp đồng vận chuyển bằng đường biển được hiểu “là bất kỳ hợp đồng nào mà theo đó người vận chuyển đảm nhận vận chuyển hàng hóa bằng đường biển từ một cảng này đến một cảng khác để thu tiền cước.”[21] Ngược lại, Quy tắc Hague 1924 và Hague-Visby 1968 không đưa ra định nghĩa về hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển mà chỉ đưa ra các hình thức được xem là hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển.[22]

Ngoài ra, việc phân loại hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển còn có thể được căn cứ vào các tiêu chí như đối tượng chuyên chở, phương thức và mục đích thuê tàu, điều kiện thanh toán và vận chuyển, lịch trình của tuyến tàu, trách nhiệm của các bên khi tham gia,….[23] Thông qua việc so sánh quy định về loại hợp đồng này giữa các nước, phần lớn các nước phân loại hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển theo hai hình thức: (1) hợp đồng vận chuyển theo chuyến, (2) hợp đồng vận chuyển theo chứng từ.

  1. Đặc điểm của hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển

Từ khái niệm trên, có thể thấy hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển có ba đặc điểm chính sau:

hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển

Đặc điểm của hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển

Thứ nhất, hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển là một loại hợp đồng dân sự có tính chất quốc tế.[24] Tính quốc tế của hợp đồng này được thể hiện thông qua một trong các dấu hiệu như: (1) Có ít nhất một bên chủ thể ký kết hợp đồng có quốc tịch nước ngoài hay có trụ sở ở nước ngoài; (2) Hợp đồng được ký kết hoặc thực hiện ở nước ngoài; (3) Đối tượng của hợp đồng là hàng hóa tồn tại ở nước ngoài. Ngoài ra, vì tính chất đặc thù của hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển nên việc vận chuyển hàng hóa quốc tế phải được vận chuyển từ cảng nhận hàng của quốc gia này đến cảng trả hàng của quốc gia khác.[25] Do đó, hợp đồng đồng này có dấu hiệu của tính quốc tế theo các quan điểm phổ biến hiện nay như: hàng hóa có sự chuyển dịch qua biên giới, hoặc hợp đồng tạo ra các giá trị, lợi ích trong thương mại quốc tế,…

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Tính chất quốc tế của hợp đồng

Thứ hai, hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển là hợp đồng song vụ có đền bù.[26] Về tính song vụ, mỗi bên trong hợp đồng đều có nghĩa vụ đối với nhau.[27] Người vận chuyển có nghĩa vụ dùng tàu biển để bảo quản và giao hàng hóa đến địa điểm đã thỏa thuận, còn người thuê vận chuyển phải thanh toán thù lao. Về tính đền bù, mỗi bên sau khi đã thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận được từ bên kia một lợi ích tương ứng. Theo đó, hàng hóa của người thuê vận chuyển được chuyên chở từ cảng nhận hàng đến cảng trả hàng và người vận chuyển được thu giá dịch vụ từ họ. Vậy hai bên trong hợp đồng có quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau, quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại.

Thứ ba, hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển tương đối thống nhất trên phạm vi toàn cầu. Dù là hợp đồng thuê tàu hay vận đơn, các bên đều có thể sử dụng các mẫu chuẩn được các tổ chức quốc tế, các hiệp hội soạn thảo và khuyến nghị hoặc sửa đổi theo ý muốn trong quá trình đàm phán. Đối với vận đơn, các công ty tham gia vào hoạt động kinh doanh vận tải biển có thể áp dụng các mẫu vận đơn tiêu chuẩn do các tổ chức vận tải biển quốc tế soạn thảo, chẳng hạn như Conlinebill và Congenbill. Đối với hợp đồng thuê tàu, các bên thường sử dụng các hợp đồng mẫu có sẵn, một số mẫu dùng cho tất cả các loại hàng hóa như GENCON, SCANCON,…; một số mẫu dùng cho các loại hàng hóa đặc biệt, chẳng hạn như NORGRAIN 89 dùng cho ngũ cốc, SOVCOAL dùng cho than đá hoặc SOVORECON dùng cho quặng.[28]

[1] Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015, Điều 145(1)

[2] Shumei Lu, ‘Gap-filling and freedom of contract’ (2000) Zhongshan University <https://digitalcommons.law.uga.edu/cgi/viewcontent.cgi?referer=&httpsredir=1&article=1029&context=stu_llm> truy cập ngày 02/02/2024

[3] Hoàng Vĩnh Long, Dương Anh Sơn, ‘Tự do hợp đồng – từ bàn tay vô hình đến chủ nghĩa can thiệp’ (2011) Vietnam Journal Online <https://vjol.info.vn/index.php/econst/article/view/10205/9362> truy cập ngày 02/02/2024

[4] Bộ luật Hàng hải 2015, Điều 146

[5] Dong-Wook Song, Photis Panayides, Maritime Logistics: A Guide to Contemporary Shipping and Port Management, (tái bản lần 2, London) 47-49

[6] Maritime Law of the People’s Republic of China 1992, Chương IV: Contract of carriage of goods by sea, Điều 41

[7] Maritime Law of the People’s Republic of China 1992, Chương IV: Contract of carriage of goods by sea, Điều 92

[8] Maritime Law of the People’s Republic of China 1992, Chương IV: Contract of carriage of goods by sea, Điều 71

[9] Maritime Law of the People’s Republic of China 1992, Chương IV: Contract of carriage of goods by sea, Điều 43; Điều 92; Bộ luật hàng hải Việt Nam 2015, Điều 146(2)

[10] Maritime Law of the People’s Republic of China 1992, Chương IV: Contract of carriage of goods by sea, Điều 44; Điều 71; Bộ luật hàng hải Việt Nam 2015, Điều 148

[11] Commercial Act of Korean, Điều 791 (Meaning of Contracts of Affreightment in General Ships)

[12] Commercial Act of Korean, Điều 780; In Hyeon Kim (2005), An Introduction to Korean Law Governing Carriage of Goods by Sea, 36(4) Journal of Maritime Law and Commerce 453

[13] Commercial Act of Korean, Điều 827

[14] Commercial Code of Federal Republic of Germany, Điều 481(1) và Điều 481(2)

[15] Commercial Code of Singapore, Chương 25, Điều 25(2)(1); Law for International Carriage of Goods by Sea of Japan, Law No. 172 of 1957; Xem thêm: Commercial Code of Japan

[16] The Commercial Code in Singapore, Chương 25: Shipping law, 2007, Điều 25(2.1)

[17] Commercial Code of Japan, Part III Maritime Commerce, Chương III, Điều 748, Điều 757

[18] Quy tắc Hague có tên gọi chính thức là Công ước Brussels về thống nhất một số quy tắc về vận đơn đường biển, được ký ngày 25/8/1924, có hiệu lực ngày 2/6/1931 (The International convention for unification of certain rules of law relating to bills of lading 1924). Công ước Brussels được sửa đổi sau đó bởi Nghị định thư Visby, được ký ngày 23/2/1968, có hiệu lực từ ngày 23/6/1977 (The Protocol to Amend the International Convention for the Unification of Certain Rules of Law Relating to Bills of Lading). Việc áp dụng thống nhất Quy tắc Hague và Nghị định thư Visby dẫn đến sự ra đời của Quy tắc Hague-Visby. Công ước Hamburg có tên gọi chính thức là Công ước của Liên Hợp Quốc về chuyên chở hàng hóa bằng đường biển, được thông qua tại Hamburg ngày 30/3/1978 có hiệu lực từ ngày 1/11/1992 (United Nations Convention on the Carriage of Goods by Sea 1978).

[19] David Luff và các tác giả khác, Đánh giá tác động của việc Việt Nam gia nhập các Công ước quốc tế về vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, EU-Vietnam Mutrap III, 11

[20] Utsav Mukherjee, ‘Hamburg Rules – United Nations Convention on the Carriage Goods by Sea, 1978 – An Appraisal’ (17/6/2008) National Law University Jodhpur <https://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=1146818> truy cập ngày 16/02/2024

[21] Công ước Hamburg 1978, Điều 1(6)

[22] Quy tắc Hague – Visby, Điều 1(b)

[23] Nguyễn Hữu Nam (2014), “Pháp luật về hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật học Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội 20-29

[24] Hà Việt Hưng, ‘Các đặc trưng cơ bản của hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển’ Tạp chí Dân chủ và Pháp luật <https://danchuphapluat.vn/hoan-thien-quy-dinh-phap-luat-ve-hop-dong-van-chuyen-hang-hoa-quoc-te-bang-duong-bien> truy cập ngày 02/02/2024

[25] Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015, Điều 145(1)

Xem thêm:

  1. Công ước Hamburg 1978, Điều 2(1);
  2. United Nations Convention on Contracts for the International Carriage of Goods Wholly or Partly by Sea (Quy tắc Rotterdam 2009), Điều 5(1)

[26] Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam tập 2 (NXB CAND 2018) 198

[27] Bộ luật Dân sự 2015, Điều 402(1)

[28] Indira Carr, Peter Stone, International Trade Law (tái bản lần 4, NXB Routledge-Cavendish 2010) 162

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *